Để xem các phần khác của bài pháp Trở Về Nguồn Cội, xin mời tất cả các chư vị click vào các links ở phía dưới, xin cảm ơn!

Mọi thắc mắc xin liên hệ:
• Facebook:
• Blog:
• Thiền Tịnh Bửu Sơn channel:

Tổng hợp các bài pháp của Đức Cậu Bần Sĩ Vô Danh trong link dưới đây:

Links cho các groups bài giảng
1. Tỉnh Giấc Mộng Đời:

2. Chỉ Sống Một Ngày:

3. Thơ Cuồng:

4. Lộ Huyền Cơ:

5. Quạnh Hiu Hiu Quạnh

6. Trở Về Nguồn Cội

Kính chúc tất cả chư vị nghe pháp an lạc và thuận buồm xuôi gió trên con đường về Phật quốc, và cũng xin chân thành cảm ơn tất cả các quý vị đã dành thời gian nghe pháp
Nam mô A Di Đà Phật

source: https://aatapaatalu.net

Xem thêm các bài viết về Giải Trí: https://aatapaatalu.net/category/giai-tri/

abigailimaino

12 thoughts on “Đức Cậu Bần Sĩ Vô Danh – Trở Về Nguồn Cội (phần cuối)”

  1. Việt Nam anh hùng

    Ông Ba Nguyễn văn Thới (1866-1926) xuất thân làm nghề nông, kiêm thêm nghề chạm mộc, vốn bản thân ít học, khi cơ duyên đến Ông Ba được Đức Phật Thầy Tây An mượn xác có khả năng tiên tri rất tài giỏi. Năm 1915, ông Ba Thới viết bộ sấm giảng Kim Cổ Kỳ Quan gồm 9 quyển đúng như ông Ba viết trong quyển cuối là Kiểng Tiên:

    Ông trở về dạy việc trước sau,
    Làm đủ chín bổn tóm thâu mối đời.
    (Kim Cổ Kỳ Quan: Kiểng Tiên 295: 53)

    Tiên tri đất nước Việt Nam bị Mỹ phân chia năm 1954 trong hiệp định đình chiến Genève (Giơ-ne-vơ), ông Ba Thới viết:

    Khổ hạ nguơn bẩm lại cà lì,
    Coi thân cực sướng nỗi gì cho thân.
    Tây chưa mãn tới việc U PHÂN, *
    Ngồi buồn thấy khổ muôn dân não nề.
    Lương kế Thánh nhơn chí kế hề,
    Ngậm ngùi Nam Việt nặng nề lao thân.
    (Kim Cổ Kỳ Quan 30: 60, ông Ba Thới viết năm 1915)

    * Câu sấm: “Tây chưa mãn tới việc U PHÂN”, cụm từ “U PHÂN”, chữ U là USA là Mỹ, chữ PHÂN là phân chia đất nước Việt Nam ra làm 2 miền Nam Bắc. Sau năm 1954, toàn dân Việt chờ tổng tuyển cử thống nhứt VN theo nội dung hiệp định Giơ-ne-vơ. Nhưng ngày 12-12-1955, đại sứ Trần văn Chương đại diện chánh phủ Ngô Đình Diệm tuyên bố ở Mỹ: “Sẽ không có tổng tuyển cử ở VN. Hiệp định Genève không bắt buộc, chánh phủ Mỹ ủng hộ lập trường này”. Câu sấm tiên tri rất là chính xác: “Tây chưa mãn tới việc U phân”. Mỹ ủng hộ giải pháp không tổng tuyển cử thống nhứt VN, Mỹ phân chia VN vĩnh viễn. Muốn có được một nước VN thống nhứt, ắt là chỉ có con đường chiến tranh như đã xảy ra…{The VN War}.

    * Câu sấm : “Ngậm ngùi Nam Việt nặng nề lao thân”, cụm từ “Nam Việt” ám chỉ tên nước ta vào triều đại Triệu Vũ Vương năm 207 trước tây lịch có biên giới bao gồm 2 tỉnh Quảng Đông Quảng Tây {Lưỡng Quảng}, giặc phương bắc lấn chiếm mưu đồ Hán hóa, tổ tiên ta phải bỏ đất Lưỡng Quảng, dời xuống Thăng Long bảo tồn giống Hồng Lạc.

    Chiến Tranh chống U PHÂN

    Nói cho lớn nhỏ ghi lòng,
    Ngày sau mới biết rõ trong sự tình.
    Giữ lời Thầy dạy đinh ninh,
    Hết TÂY rồi lại thiệt tình tới U. *
    Lành thời niệm Phật công phu,
    Dữ thời chịu chữ lao tù hổ ngươi.** ám chỉ ai theo TÂY U phải vào tù năm 1975
    (Đức Phật Thầy Tây An tr. 165, Vương Kim & Đào Hưng biên khảo, nhà xuất bản Long Hoa ấn tống năm Quý tị 1953)

    * Câu sấm: “ Hết TÂY rồi lại thiệt tình tới U”, chữ U ám chỉ Huê Kỳ USA

    Nước Việt do dân Việt chủ quyền,
    Khó ai chi phối giống Rồng Tiên.
    Chung quy yêu nước hơn tư tưởng,
    Nam Bắc cuối cùng một mái hiên.
    (Bồ Tát Thanh Sĩ viết ở Tokyo ngày 30-8- 1968)

    Ngày 30-8-1968, Bồ Tát Thanh Sĩ viết lời tiên tri về cuộc chiến chống giặc Mỹ bằng bốn câu thơ thất ngôn thiêng liêng. Nội dung Ngài báo trước rằng nước Việt cuối cùng chắc chắn sẽ giành được độc lập thống nhứt giang sơn. Trong cơn quốc biến, toàn dân Việt đặt quyền lợi Tổ quốc lên trên hết, gạt bỏ những dị biệt tư tưởng duy vật duy tâm, Phật giáo, Công Giáo…{Chung quy yêu nước hơn tư tưởng}. Tất cả mọi người dân Việt đoàn kết thành một khối vững chắc đập tan kẻ thù xâm lược U PHÂN
    Những lời tiên tri này như một thông điệp thiêng liêng kêu gọi toàn dân Việt yêu nước chống âm mưu chia rẽ {U Phân}, và bằng bất cứ giá nào cũng phải quyết chí thống nhứt nước nhà: “Nam Bắc cuối cùng một mái hiên”.

    Tiên Tri VN & Đồng Minh chống giặc Tàu:

    Mẹ đấy con! chỉ bao lẽ đó,
    Con ráng suy cho rõ mà hành;
    Cuộc thế gian như sợi chỉ mành,
    Hãy liệu gấp chớ nên chậm trễ.
    Mẹ đấy con! CHÉN kia khi BỂ, *… Chén + Bể = CHÉN BỂ ám chỉ lãnh tụ nước Tàu chết
    Dù khéo tay không thể gắn liền;
    Họa đến rồi niệm Phật sao yên,
    Lùi hơn sự tiến lên là khổ.** Giục tốc bất đạt, Trung Quốc Mộng tan vỡ, khổ!
    (Rằm Tháng Mười, Bồ Tát Thanh Sĩ viết ở Tokyo ngày 15-12-1958)
    Hai câu sấm quan trọng báo động cho lãnh tụ nước Tàu gây chiến Biển Đông biết trước đặng mà lùi bước, không nên hấp tấp tiến nhanh quá, nếu tham lam tiến nhanh quá sẽ lãnh đại họa khôn lường:

    Mẹ đấy con! CHÉN kia khi BỂ, *
    Dù khéo tay không thể gắn liền.

    Thiên cơ bất khả lậu. Muốn báo động thiên cơ, Bồ Tát phải dụng cách nói mẹo, nói quanh co bóng gió, nói cái này để ám chỉ cái kia, dương đông kích tây. Lời truyền sấm như bài toán đố, toán đố mẹo. Ghép chữ CHÉN vào chữ BỂ, sẽ có cụm từ thiên cơ “Chén Bể” ám chỉ tên lãnh tụ nước Tàu gây ra trận giặc Biển Đông phải chết theo luật nhân quả. Gieo gió phải gặt bão. Giục tốc bất đạt. Thay vì tiến chậm mà chắc, thì lãnh tụ nước Tàu quá tham lam vội vã muốn tiến nhanh nắm trọn cả quyền lực lợi danh trên khắp hoàn vũ nên phải thất bại: “chén bể”. Khi sự cố xảy ra “chén bể” rồi, thì đã muộn màng, không sao quay lại được như tình thế ban đầu. Câu sấm viết rất chính xác: “Dù khéo tay không thể gắn liền”.

    Thế nay cạn, sự đã rồi!
    Mở mang dời đổi Lập Đời Thượng Nguơn.
    Chuyển luân thiên địa tuần huờn,
    Hội Này thấy lửa tàm lam cháy mày.
    Ít ai tỏ biết đặng hay,
    Ví như cầm CHÉN rủi tay BỂ rồi! * Chén + Bể = CHÉN BỂ ám chỉ lãnh tụ nước Tàu chết
    Thầy xưa lời dặn hẳn hòi,
    Thực nhơn nhơn thực đến hồi chẳng không.
    Oan oan tương báo chập chồng,
    Tham tài tích đại mình không xét mình.
    Khiến xui phụ tử tương tranh,
    Cha không lành thảo con lành đặng đâu.
    Trung quân, phụ tử làm đầu,
    Phản quân, sát phụ, hỡi câu sách nào?
    Trời xui trăm vật trăm hao,
    Để cho đồ khổ, xiết bao nhọc nhằn.
    Ngọn phù thủy, cuộc đất xây,*****…Sóng thần động đất.
    Rồng nằm đáy biển sông hằng hứng sương.
    (Sấm Truyền Đức Phật Thầy Tây An, tr. 107, lưu ở đình Tòng Sơn năm Kỷ Dậu 1849, Nguyễn văn Hầu biên khảo ấn tống năm 1973)

    Nay mai SỤP ĐỔ CÙ LAO,*** Mỹ xóa 7 đảo nhân tạo Biển Đông
    Giáp vòng bi lụy máu đào tuôn rơi.
    Nói thiệt không phải nói chơi,
    NGỌ MÙI THÂN DẬU lập Đời đó dân.*** tháng 5, 6, 7, 8 âl năm 2020
    Lập rồi cái hội Tân Dân,
    Lập rồi cái đại Phong Thần kỳ ba.
    Bây giờ TA mới nói ra,
    Sắp đây mở Hội Long Hoa bớ người.
    Lọc ai phước đức cao dư,
    Đặng mà lập lại con người Thượng Nguơn.
    Nói ra có kẻ buồn hờn,
    TA đâu có sợ keo sơn được rồi.
    Nói đi nói đứng nói ngồi,
    Nói rằng nứt nắp BỂ NỒI RÃ HAI.*** Bể Nồi…
    Nói rằng cuồng loạn hăng say,
    Từ đây cháy hết được quay chỗ nào.
    Bên Tây rồi lại bên Tàu,
    Bên Anh bên Nhựt cũng nhào tiêu diêu.
    Không mai ắt cũng đến chiều,
    Mỹ Nga cũng vậy Mỹ miều cũng SAN!**..Chữ SAN là san bằng tiêu tan, Tận Thế!
    (Đức Cậu Bần Sĩ Vô Danh ứng khẩu thuyết, kết tập sách Thiền Tịnh Bửu Sơn tr. 105, Hội Cư Sĩ Thiền Tịnh Bửu Sơn Sydney ấn tống năm 2002)
    Lời bình: Câu sấm: “Nói rằng nứt nắp BỂ NỒI RÃ HAI”, cụm từ “BỂ NỒI” ám chỉ lãnh tụ nước Tàu gây trận giặc Biển Đông sẽ chết; cụm từ “RÃ HAI”, ám chỉ sau khi vị lãnh tụ giặc Tàu gây chiến Biển Đông chết {Bể Nồi}, chừng đó hai cường quốc Mỹ Nga giành giựt ngôi trùm thế giới đánh bằng vũ khí nguyên tử, biển bắc bán cầu nhiễm phóng xạ nguyên tử. Câu sấm: “Mỹ Nga cũng vậy Mỹ miều cũng san”. Chữ “SAN” nghĩa là san bằng tiêu tan, vì kể từ tháng 7 tháng 8 âl năm 2020, các cường quốc đấu chiến hỏa tiễn nguyên tử bay rợp trời đông tây, chết chóc khủng khiếp. Khi thấy có sự cố “BỂ NỒI” hay “BỂ CHÉN”, bá tánh biết đó là điềm tận thế đến. Hãy tu mau kẻo trễ!

    Hết MỸ rồi lại tới NGA,
    Từ đây sắp đến đem ra đấu tài.
    Đờn kêu các nước ngoại lai,
    Sắp mưu sắp kế ai hoài biết đâu.
    Làm cho rã quả địa cầu… ** ….. Tận Thế
    (Đức Cậu Bần Sĩ Vô Danh thuyết, Sấm Giảng Đạo Khùng tr. 99 Thiền Tịnh Bửu Sơn Sydney ấn tống năm 2002)

    * Sau khi Tận Thế, Trời Phật mở Long Hoa Đại Hội lập lại Thượng Nguơn Thánh Đức. Thánh địa Di Lạc Phật Vương tại Nam VN.
    Sydney, 29-10-2019, Kỳ Vân Cư Sĩ biên khảo https://www.facebook.com/kiengxluu https://kinhsamthatson.wordpress.com/
    https://www.youtube.com/watch?v=Pi9r2MoEjdI&t=1418s

  2. Con kinh lai duc cau ban si vo danh.
    Con nam mo a di da phat.
    Con nam mo duc bon su thich ca mau ni phat.
    Con nam mo duc di lac ton phat.
    Con nam mo duc dai hung dai luc dai bi Quan the am bo tat.
    Con nam mo duc dai the tri .
    Loi vang ngoc that qui bau vo cung tan

  3. Dức cậu Ban. Cau nguyen on tren cho các chiến sĩ vo danh. Lạy ong Nguyễn trung Trực. Mong ông giúp cho dat nước binh yên, dân khoi khổ. Nam mo a di da Phật. Cam ơn cô da mo dien dan, chúc co suc khỏe

  4. Phật hát tỏ tường

    Khi xưa TA cũng làm thơ,

    Mà đời trần hạ làm ngơ ít nhìn.

    Dạy cho trần thế phỉ tình,

    Đàng Tiên cõi tục phân minh hai đường.

    Bây giờ hát bộ là thường,

    Để sau Phật hát tỏ tường cho xem.

    (Sám Giảng quyển ba, Đức Huỳnh Giáo Chủ viết tại Hòa Hảo năm 1939)

    Ngày xưa năm 1849, Đức Phật Thầy Tây An lưu lại một quyển Sấm Truyền bằng thể thơ lục bát; kế đến năm 1901, Đức Phật Thầy mượn xác Ông Sư Vãi Bán Khoai cũng lưu lại một bộ Sám Giảng Người Đời cũng theo thể thơ lục bát…

    Phật thương giở mí cửa trời,

    Thương người chí để chịu lời đắng cay.

    Hát bội nhiều tội khó thay,

    Sau coi hát Phật thiệt hay vô cùng !

    Hát Phật hội đủ anh hùng,

    Thi tài tranh phép vô cùng trí tri.

    Hát bội nhạo lại mà khi,

    Không tài không phép biết chi trong mình.

    (Kim Cổ Kỳ Quan, Tiền Giang 229 : 69, Ông Ba Nguyễn văn Thới viết năm 1915)

    Lời bình : Ngày xưa, vì điều kiện khoa học chưa phát minh máy ghi âm phổ biến như ngày nay, chư vị Bồ Tát viết Sấm Giảng hay Sấm Truyền bằng những thể thơ, đặc biệt là thể thơ lục bát dễ đọc dễ nhớ như trường hợp quyển Sấm Truyền Đức Phật Thầy Tây An và quyển Sám Giảng Người Đời của Sư Vãi Bán Khoai.

    Sau này do hoàn cảnh khoa học tân tiến phát minh ra các thiết bị ghi âm như dĩa, băng nhựa, thẻ nhớ…Nên các bài tân nhạc hay tuồng hát cổ cải lương được ghi âm truyền bá rộng rãi, khiến chúng sanh say mê nghe ca hát hơn là đọc sấm giảng, vì đọc mỏi mắt.

    Tùy cơ ứng biến tùy duyên hóa độ, chư vị Bồ Tát Phật giáng trần cũng phải ứng khẩu ca hát trực tiếp cho chúng sanh nghe. Vì vậy Đức Huỳnh Giáo Chủ tiên tri rằng « Để sau Phật hát tỏ tường… », nghĩa là Phật ứng khẩu thuyết bằng cách ca hát trực tiếp cho chúng sanh nghe ; và từ đó, mới có sự ra đời những băng nhựa hay dĩa ghi âm ứng khẩu thuyết pháp bằng những lời hát ca của Đức Cậu Bần Sĩ Vô Danh như : Lộ Huyền Cơ, Tận Huyền Cơ, Quay Về Nguồn Cội, Cứu Nguy Tận Thế, Luận Cơ Tri Đạo, Thăm Làng Tân Nhựt, Kinh Đào, Giồng Riềng, Đến Thăm Cần Đước, Phú Thuận 1, 2, 3, Quay Về Phú Thuận… Cuối Hạ Nguơn, chúng sanh không những say mê đờn ca xướng hát, và còn say mê luôn bài bạc ăn thua đỏ đen, Phật Thầy tái thế cũng phải tùy duyên chiều theo mà ứng khẩu rao đờn & hát ca cho chúng sanh nghe bằng những điệu thơ vè kể cả rao giọng Lôtô nữa. Thật là Phật thương chúng sanh như mẹ thương con vậy.

    …Không lo âu yếm tu tịnh cho rồi,

    NỨT NẮP BỂ NỒI CHÈ XÔI TRÔI HẾT. *

    Từ đây tới tết kẻ lết người bò,

    Đói khổ xuôi cò chuyện trò ai nữa.

    Giờ mau tắm rửa đóng cửa từ bi,

    Cậu nói vân vi dị kỳ quá sá.

    Miền Nam quý giá cao cả biết bao,

    Bá tánh đồng bào rủ nhau cho lẹ.

    Đừng nên ganh hẹ sau sẽ nguy nàn,

    Ức triệu bạc vàng cũng trôi ra biển.

    Về nhà cầu nguyện Phật hiện cứu đời,

    Sau đẹp tuyệt vời xa xa trông thấy.

    Ai xài bạc giấy sau mất sạch trơn,
    Bảy núi Thất Sơn nghe đờn lừng lẫy.
    Trò đâu có thấy mây bạc chín từng,

    Đừng có vui mừng nửa lừng lửa cháy.

    Kêu trong đạo phái ráng hãy tường tri,

    Ráng sống mau đi đặng mình coi hát.

    Bình Dương ngào ngạt gánh hát đủ màu.

    Đen trắng cùng nhau đủ đào đủ kép.*

    Ráng về mà khép coi hát nghe hôn,

    Ráng hãy bôn chôn dựng cồn dựng bãi.* .

    Coi đi trai gái Gánh Hát Bình Dương,

    Cậu đã phô trương đủ tài đủ phép.

    Giờ này hãy khép mắt lại im tai,

    Là con số 2.

    (băng Lộ Huyền Cơ 7, Đức Cậu Bần Sĩ Vô Danh ứng khẩu thuyết thập niên 80, kết tập sách Hòa Đồng Tôn Giáo tr. 117-118, Thiền Tịnh Bửu Sơn Sydney ấn tống năm Tân Tị 2001)

    Trước kia khi nghe Đức Cậu Bần Sĩ Vô Danh ứng khẩu thuyết bài vè lôtô với câu: “NỨT NẮP BỂ NỒI CHÈ XÔI TRÔI HẾT”, tôi cứ lầm tưởng rằng thuyết mãi đạo lý khô khan, nên Đức Cậu muốn chiều lòng bá tánh, nói chơi cho vui tai coi như phương tiện lần từng bước dẫn bá tánh vào con đường chánh pháp.

    Mãi đến năm 2011, tôi mới giật mình bừng tỉnh khi hiểu ra rằng mỗi chữ trong câu sấm hàm chứa cái lý huyền cơ sấm ký vô cùng vi diệu.

    Cụm từ “NỨT NẮP” ám chỉ trận chiến Biển Đông bùng nổ dữ dội.

    Cụm từ “ BỂ NỒI” ám chỉ lãnh tụ giặc Tàu chết trong khi trận chiến nổ ra.

    Sau khi Mỹ và đồng minh đánh tan nước Tàu, thì lãnh tụ giặc Tàu chết {BỂ NỒI}, chừng đó hai ông trùm Nga Mỹ {CHÈ XÔI} tranh ngôi bá chủ hoàn cầu đánh nhau bằng võ khí nguyên tử đưa nhơn loại đến đại họa Tận Thế, nghĩa là không có kẻ nào thắng, mà là tất cả Nga Mỹ {CHÈ XÔI} đều thua {TRÔI HẾT}.Cụm từ “TRÔI HẾT” là Tận Thế.

    Vậy khi nào thấy sự cố “BỂ NỒI”, bá gia biết đó là điềm báo cận kề Tận Thế. Hãy tu mau kẻo trễ! Nam Mô A Di Đà Phật

    Đờn kêu.

    Đờn kêu khổ sở bi ai,

    Đói đau chi xiết dạn dày hay không?

    Đờn kêu biển hải mênh mông,

    Đờn kêu hãy ráng lập công bồi đường.

    Đờn kêu vạn quốc thê lương,

    Tới đây rồi Thái Bình Dương diệu vời.

    Sống đi coi hát người ơi,

    Đủ đào đủ kép vậy thời đỏ đen.

    BÌNH DƯƠNG sóng động nhiều phen,

    Ráng xem Gánh Hát trúc kèn vang vang.

    Đờn kêu nước Việt an bang,

    Nghe đây Khùng Khiệu trổi vang tiếng đờn.

    (Quay Về Nguồn Cội tr. 268, kết tập băng Lộ Huyền Cơ 4 do Đức Cậu Bần Sĩ Vô Danh ứng khẩu thuyết thập niên 80, Thiền Tịnh Bửu Sơn Sydney ấn tống năm 1997)

    Hôm nay đây PHẬT ĐÃ NGỒI GẦN,

    Phật giáo đạo Phật kim thân trần thế.

    Trò không hiểu giờ này Cậu kệ,*****..Cụm từ "Câu kệ" là Cậu ca kệ ca hát, là hát Phật

    Ráng nghe bài rồi nhỏ lệ tuôn rơi.

    Buồn thay trong lúc Lập Đời,*

    Ít người hiền sĩ chèo bơi chuyến Đò.*

    Trò về ráng tu đi, pháp Phật Cậu cho,

    Cho mình đắc đạo giàu to đức lành…

    (Băng Tận Huyền Cơ phút thứ 20 do Đức Cậu Bần Sĩ Vô Danh ứng khẩu thuyết tại nhà Bà Tư Phú Lâm nhân chuyến đồng đạo Ngọc Hương từ Úc về VN diện kiến Đức Cậu; kết tập sách Ông Sư Vãi Bán Khoai tái lâm tr. 28 do Thiền Lâm Houston TX Mỹ ấn tống năm 1996)

    Những lời ca kệ trên do Đức Cậu Bần Sĩ tỏ bày tâm sự cũng giống như nội dung những lời thơ của Đức Thầy Huỳnh Giáo Chủ sau đây:

    Khen ai cắc cớ bấm trời tây, * Từ cõi Niết Bàn Phật
    Tỉnh giấc HẰNG NGA khéo vẽ mày; *****Hằng Nga là mặt Trăng = Xác Nữ = Xác Cô

    Một phiến linh đinh trôi mặt biển, ***Tại sao Cô mà lại xưng Cậu?

    Nửa vừng lửng đửng dán trên mây. ….và tại sao xưng Cậu mà lại là Cô?

    Cá ngờ câu thả tơi bời lội, ****Người đạo thấy xác Nữ sợ đạo tà,

    Chim tưởng cung trương sập sận bay; ….. vội vã bỏ Thầy

    Nên một nên hai còn bé tuổi,

    Mười lăm mười bảy bốn phương hay.

    (Ngày 14-6- Canh Thìn (1940) tại làng Nhơn Nghĩa, Đức Thầy có làm thơ vịnh Hằng Nga dụng ý gởi một thông điệp quan trọng cho đệ tử hậu lai biết rằng thời cuối Hạ Nguơn Thầy sẽ tái sanh mượn Xác Nữ , Hằng Nga)

    ***

    Đêm dài dặn cạn dầu tiêm lụn,*

    Chẳng thấy ai tìm kiếm Bóng TRĂNG.*

    Để làm cho mích bụng CHỊ HẰNG,

    Nơi Cung Nguyệt chờ trông mõn dạ.

    (Diệu Pháp Quang Minh, Đức Huỳnh Giáo Chủ viết năm 1940)

    Buồn thay trong lúc Lập Đời,*

    Ít người hiền sĩ chèo bơi chuyến Đò.*

    (Băng Tận Huyền Cơ do Đức Cậu Bần Sĩ Vô Danh ứng khẩu thuyết, đã đăng trên Youtube ThienTinh BuuSon)

    Sydney, 31-10-2019, Kỳ Vân Cư Sĩ biên khảo https://www.facebook.com/kiengxluu https://kinhsamthatson.wordpress.com/

    https://www.youtube.com/watch?v=Pi9r2MoEjdI&t=1418s

  5. HỒN VIỆT ANH HÙNG

    Thư kiếm tùng nhung tự thiếu niên,
    Yêu gian đàm khí hữu long tuyền,
    Anh hùng nhược ngộ vô dung địa.
    Bảo hận thâm cừu bất đái thiên.

    Thi sĩ Đông Hồ dịch:

    Theo việc binh nhung thuở trẻ trai,
    Phong trần hăng hái tuốt gươm mài.
    Anh hùng gặp phải hồi không đất,
    Thù hận chang chang chẳng đội trời.

    Đại Thần Nguyễn Trung Trực xuất thân làm nghề chài lưới, tên thật là Nguyễn văn Lịch sinh năm 1838. Ngày 11-12-1861, Ngài chỉ huy nghĩa quân, khéo dùng mưu đốt tàu Espérance ở sông Nhật Tảo, giết chết 17 tên Pháp {gồm cả trung tướng chỉ huy Parfait} và 20 lính tập, gây tiếng vang lừng lẫy khắp nước, khiến giặc Pháp khiếp sợ. Đền thờ Ngài là một biểu tượng yêu nước chống ngoại xâm, hiếu trung toàn vẹn.

    Phụ lục Hồn Việt :

    Nói cho lớn nhỏ ghi lòng,
    Ngày sau mới biết rõ trong sự tình.
    Giữ lời Thầy dạy đinh ninh,
    Hết Tây rồi lại thiệt tình tới U. *
    Lành thời niệm Phật công phu,
    Dữ thời chịu chữ lao tù hổ ngươi.***…Ám chỉ ai theo Tây U sẽ bị vào trại tù cải tạo năm 1975
    (Đức Phật Thầy Tây An tr. 165, Vương Kim & Đào Hưng biên khảo, nhà xuất bản Long Hoa ấn tống năm Quý tị 1953) *     U = USA ám chỉ Huê Kỳ
    ****************************
    Đừng ham làm chức nắc nia,
    Ngày sau như khóa không chìa dân ôi!**….Ám chỉ ai theo Tây U sẽ bị vào trại tù cải tạo năm 1975
    Tu hành như thể thả trôi,
    Nay lở mai bồi chẳng có thiềng tâm.
    Mưu sâu thì họa cũng thâm,
    Ngày sau sẽ biết thú cầm chỉn ghê.
    Hùm beo tây tượng bộn bề,
    Lại thêm ác thú mãng xà rít to.
    Bá gia ai biết thì lo,
    Gác tai dèm siểm đôi co ích gì.
    HẾT TÂY RỒI ĐẾN HUÊ KỲ,*
    Sưu cao thuế nặng vậy thì thiết tha!*
    Dân nay như thể không cha,
    Chẳng ai dạy dỗ thiệt là thảm thương!
    (Khuyên Người Đời Tu Niệm, Đức Thầy Huỳnh Giáo Chủ viết ở Hòa Hảo năm Kỷ Mão 1939)
    * Câu: “HẾT TÂY RỒI ĐẾN HUÊ KỲ”, bị kẻ tà theo Tây U sửa lại là: “HẾT ĐÂY RỒI ĐẾN DỊ KỲ”.

    Mị Châu ơi hỡi Mị Châu,**** Ám chỉ Nixon gặp Mao năm 1972 mở bang giao Mỹ Tàu…
    Mê chi thằng Chệt để sầu cho cha!*****…………Mỹ giúp Tàu giàu mạnh, rồi Mỹ bị Tàu phản bội
    (Thi Văn Giáo Lý của Đức Huỳnh Giáo Chủ thuyết trên đường khuyến nông từ miền Tây về Sài Gòn năm 1945)
    * Sẽ có một trận chiến Mỹ Tàu tranh ngôi bá chủ hoàn cầu đưa nhơn loại đến đại họa Tận Thế! Trời Phật mở Long Hoa Đại Hội lập lại Thượng Nguơn Thánh Đức. Thánh địa Di Lạc Phật Vương tại Nam VN.
    **********
    Bài thơ cuối cùng của nhà cách mạng Nguyễn An Ninh:

    SỐNG

    Sống mà vô dụng, sống làm chi,
    Sống chẳng lương tâm, sống ích gì?
    Sống trái đạo người, người thêm tủi,
    Sống quên ơn nước, nước càng khi.
    Sống tai như điếc, lòng đâm thẹn,
    Sống mắt dường đui, dạ thấy kỳ.
    Sống sao nên phải, cho nên sống,
    Sống để muôn đời, sử tạc ghi.

    CHẾT

    Chết sao danh tiếng vẫn còn hoài,
    Chết đáng là người đủ mắt tai.
    Chết được dựng hình tên chẳng mục,
    Chết đưa vào sử chứ không phai.
    Chết đó, rõ ràng danh sống mãi,
    Chết đây, chỉ chết cái hình hài.
    Chết vì Tổ quốc, đời khen ngợi,
    Chết cho hậu thế, đẹp tương lai.

    Rognorn, người lính Pháp gác cổng trại giam, đã kêu rú lên khi thấy trong chiếc bao bố là xác ông Ninh được bó trong manh chiếu. Rognorn chạy nhanh đến xin chúa đảo Côn Đảo Tisseyer một cái hòm, nhưng chẳng được gì ngoài lời chửi rủa. Bà Charlotte Printanière, vợ của giám đốc Sở điện của đảo, trước đây cùng học chung với ông Ninh, đến ngỏ ý muốn đóng một quan tài cho ông, nhưng cũng bị chúa đảo từ chối. Vì vậy, chiếc xe bò chở xác Nguyễn An Ninh cứ như thế, lại tiếp tục lộc cộc đi qua những con đường gập ghềnh để đến khu mộ Hàng Keo. Thấy quần áo ông quá cũ nát, một người tù đã lấy chiếc áo còn khá lành lặn của mình để thay. Và họ đã tìm thấy trong túi áo ông bài thơ viết nghệch ngoạc ghi trên. (Lê Minh Quốc, Dấu Ấn Để Lại, NXB Văn Học 1997, tr.325).

    *   Khi tướng Tàu Thoát Hoan âm mưu dụ dỗ mua chuộc, Trần Bình Trọng (1259-1285) anh hùng Việt Nam tuyên bố: “Ta thà làm quỷ nước Nam, chứ không thèm làm vương đất Bắc. Nay ta đã bị bắt thì chỉ có chết là cùng, can gì phải hỏi lôi thôi.” Trần Bình Trọng chết khi mới 26 tuổi đời.

    *   Nguyễn Trung Trực anh hùng chống Tây tuyên bố: “Bao giờ Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người Nam đánh Tây”

    *   Sau 6 lần cưa chân anh hùng tình báo Nguyễn văn Thương, Viên Sĩ quan CIA- Mỹ phải thốt lên :  “Thương à, tao thua mày rồi, mày không phải là người. Mày là sinh vật thép!”

        Anh hùng Nguyễn văn Thương kể lại kỉ niệm đáng nhớ nhất là vào năm 1986, trong một cuộc gặp gỡ giữa phái đoàn quân sự Mỹ qua thăm Việt Nam, một viên đại tá Mỹ đã hỏi Nguyễn Văn Thương. “Trong chiến tranh, người Mỹ đã tra tấn anh, đã cưa đứt hai chân anh, vậy anh có căm thù người Mỹ không?” Nguyễn Văn Thương trả lời: “Tôi căm thù chứ, ngày ấy tôi căm thù người Mỹ tàn ác đã cưa chân tôi nhưng sau này hòa bình rồi, tôi hiểu đó là chiến tranh mà. Chiến tranh thì phải chiến đấu  loại trừ,  tiêu  diệt nhau, có kẻ thắng người thua. Người thắng là chúng tôi, người thua là các ông cũng đều mất mát cả. Bây giờ tôi không căm thù người Mỹ mà chỉ căm thù chiến tranh, căm thù chế độ tổng thống Mỹ thời đó đã ra lệnh cho lính Mỹ tàn sát người Việt Nam chúng tôi. Nhân dân Mỹ yêu chuộng hòa bình, lên án và phản đối chiến tranh thì tại sao tôi lại căm thù họ?”

       Dân tộc ta tự hào từ ngàn xưa có những người Việt khí phách siêu phàm, cao thượng, hy sinh thân mình để bảo vệ tổ quốc, bảo vệ giống dòng Hồng Lạc. Chúng ta tin chắc rằng dân Việt vẫn tồn tại mãi với lịch sử nhân loại.

    Sydney,18-10-2019, Kỳ Vân Cư Sĩ biên khảo   https://www.facebook.com/kiengxluu   https://kinhsamthatson.wordpress.com/ 
    https://www.youtube.com/watch?v=Pi9r2MoEjdI&t=1418s

  6. Chiến Tranh chống Tây Mỹ Tàu

    Ông Ba Nguyễn văn Thới (1866-1926) xuất thân làm nghề nông, kiêm thêm nghề chạm mộc, vốn bản thân ít học, khi cơ duyên đến Ông Ba được Đức Phật Thầy Tây An mượn xác có khả năng tiên tri rất tài giỏi. Năm 1915, ông Ba Thới viết bộ sấm giảng Kim Cổ Kỳ Quan gồm 9 quyển đúng như ông Ba viết trong quyển cuối là Kiểng Tiên:

    Ông trở về dạy việc trước sau,
    Làm đủ chín bổn tóm thâu mối đời.
    (Kim Cổ Kỳ Quan: Kiểng Tiên 295: 53)

    Tiên tri đất nước Việt Nam bị Mỹ phân chia năm 1954 trong hiệp định đình chiến Genève (Giơ-ne-vơ), ông Ba Thới viết:

    Khổ hạ nguơn bẩm lại cà lì,
    Coi thân cực sướng nỗi gì cho thân.
    Tây chưa mãn tới việc U PHÂN, *
    Ngồi buồn thấy khổ muôn dân não nề.
    Lương kế Thánh nhơn chí kế hề,
    Ngậm ngùi Nam Việt nặng nề lao thân.
    (Kim Cổ Kỳ Quan 30: 60, ông Ba Thới viết năm 1915)

    * Câu sấm: “Tây chưa mãn tới việc U PHÂN”, cụm từ “U PHÂN”, chữ U là USA là Mỹ, chữ PHÂN là phân chia đất nước Việt Nam ra làm 2 miền Nam Bắc. Sau năm 1954, toàn dân Việt chờ tổng tuyển cử thống nhứt VN theo nội dung hiệp định Giơ-ne-vơ. Nhưng ngày 12-12-1955, đại sứ Trần văn Chương đại diện chánh phủ Ngô Đình Diệm tuyên bố ở Mỹ: “Sẽ không có tổng tuyển cử ở VN. Hiệp định Genève không bắt buộc, chánh phủ Mỹ ủng hộ lập trường này”. Câu sấm tiên tri rất là chính xác: “Tây chưa mãn tới việc U phân”. Mỹ ủng hộ giải pháp không tổng tuyển cử thống nhứt VN, Mỹ phân chia VN vĩnh viễn. Muốn có được một nước VN thống nhứt, ắt là chỉ có con đường chiến tranh như đã xảy ra…{The VN War}.

    * Câu sấm : “Ngậm ngùi Nam Việt nặng nề lao thân”, cụm từ “Nam Việt” ám chỉ tên nước ta vào triều đại Triệu Vũ Vương năm 207 trước tây lịch có biên giới bao gồm 2 tỉnh Quảng Đông Quảng Tây {Lưỡng Quảng}, giặc phương bắc lấn chiếm mưu đồ Hán hóa, tổ tiên ta phải bỏ đất Lưỡng Quảng, dời xuống Thăng Long bảo tồn giống Hồng Lạc.

    Chiến Tranh chống U PHÂN

    Nói cho lớn nhỏ ghi lòng,
    Ngày sau mới biết rõ trong sự tình.
    Giữ lời Thầy dạy đinh ninh,
    Hết TÂY rồi lại thiệt tình tới U. *
    Lành thời niệm Phật công phu,
    Dữ thời chịu chữ lao tù hổ ngươi.** ám chỉ ai theo TÂY U phải vào tù năm 1975
    (Đức Phật Thầy Tây An tr. 165, Vương Kim & Đào Hưng biên khảo, nhà xuất bản Long Hoa ấn tống năm Quý tị 1953)

    * Câu sấm: “ Hết TÂY rồi lại thiệt tình tới U”, chữ U ám chỉ Huê Kỳ USA

    Nước Việt do dân Việt chủ quyền,
    Khó ai chi phối giống Rồng Tiên.
    Chung quy yêu nước hơn tư tưởng,
    Nam Bắc cuối cùng một mái hiên.
    (Bồ Tát Thanh Sĩ viết ở Tokyo ngày 30-8- 1968)

    Ngày 30-8-1968, Bồ Tát Thanh Sĩ viết lời tiên tri về cuộc chiến chống giặc Mỹ bằng bốn câu thơ thất ngôn thiêng liêng. Nội dung Ngài báo trước rằng nước Việt cuối cùng chắc chắn sẽ giành được độc lập thống nhứt giang sơn. Trong cơn quốc biến, toàn dân Việt đặt quyền lợi Tổ quốc lên trên hết, gạt bỏ những dị biệt tư tưởng duy vật duy tâm, Phật giáo, Công Giáo…{Chung quy yêu nước hơn tư tưởng}. Tất cả mọi người dân Việt đoàn kết thành một khối vững chắc đập tan kẻ thù xâm lược U PHÂN
    Những lời tiên tri này như một thông điệp thiêng liêng kêu gọi toàn dân Việt yêu nước chống âm mưu chia rẽ {U Phân}, và bằng bất cứ giá nào cũng phải quyết chí thống nhứt nước nhà: “Nam Bắc cuối cùng một mái hiên”.

    Tiên Tri VN & Đồng Minh chống giặc Tàu:

    Mẹ đấy con! chỉ bao lẽ đó,
    Con ráng suy cho rõ mà hành;
    Cuộc thế gian như sợi chỉ mành,
    Hãy liệu gấp chớ nên chậm trễ.
    Mẹ đấy con! CHÉN kia khi BỂ, *… Chén + Bể = CHÉN BỂ ám chỉ lãnh tụ nước Tàu chết
    Dù khéo tay không thể gắn liền;
    Họa đến rồi niệm Phật sao yên,
    Lùi hơn sự tiến lên là khổ.** Giục tốc bất đạt, Trung Quốc Mộng tan vỡ, khổ!
    (Rằm Tháng Mười, Bồ Tát Thanh Sĩ viết ở Tokyo ngày 15-12-1958)
    Hai câu sấm quan trọng báo động cho lãnh tụ nước Tàu gây chiến Biển Đông biết trước đặng mà lùi bước, không nên hấp tấp tiến nhanh quá, nếu tham lam tiến nhanh quá sẽ lãnh đại họa khôn lường:

    Mẹ đấy con! CHÉN kia khi BỂ, *
    Dù khéo tay không thể gắn liền.

    Thiên cơ bất khả lậu. Muốn báo động thiên cơ, Bồ Tát phải dụng cách nói mẹo, nói quanh co bóng gió, nói cái này để ám chỉ cái kia, dương đông kích tây. Lời truyền sấm như bài toán đố, toán đố mẹo. Ghép chữ CHÉN vào chữ BỂ, sẽ có cụm từ thiên cơ “Chén Bể” ám chỉ tên lãnh tụ nước Tàu gây ra trận giặc Biển Đông phải chết theo luật nhân quả. Gieo gió phải gặt bão. Giục tốc bất đạt. Thay vì tiến chậm mà chắc, thì lãnh tụ nước Tàu quá tham lam vội vã muốn tiến nhanh nắm trọn cả quyền lực lợi danh trên khắp hoàn vũ nên phải thất bại: “chén bể”. Khi sự cố xảy ra “chén bể” rồi, thì đã muộn màng, không sao quay lại được như tình thế ban đầu. Câu sấm viết rất chính xác: “Dù khéo tay không thể gắn liền”.

    Thế nay cạn, sự đã rồi!
    Mở mang dời đổi Lập Đời Thượng Nguơn.
    Chuyển luân thiên địa tuần huờn,
    Hội Này thấy lửa tàm lam cháy mày.
    Ít ai tỏ biết đặng hay,
    Ví như cầm CHÉN rủi tay BỂ rồi! * Chén + Bể = CHÉN BỂ ám chỉ lãnh tụ nước Tàu chết
    Thầy xưa lời dặn hẳn hòi,
    Thực nhơn nhơn thực đến hồi chẳng không.
    Oan oan tương báo chập chồng,
    Tham tài tích đại mình không xét mình.
    Khiến xui phụ tử tương tranh,
    Cha không lành thảo con lành đặng đâu.
    Trung quân, phụ tử làm đầu,
    Phản quân, sát phụ, hỡi câu sách nào?
    Trời xui trăm vật trăm hao,
    Để cho đồ khổ, xiết bao nhọc nhằn.
    Ngọn phù thủy, cuộc đất xây,*****…Sóng thần động đất.
    Rồng nằm đáy biển sông hằng hứng sương.
    (Sấm Truyền Đức Phật Thầy Tây An, tr. 107, lưu ở đình Tòng Sơn năm Kỷ Dậu 1849, Nguyễn văn Hầu biên khảo ấn tống năm 1973)

    Nay mai SỤP ĐỔ CÙ LAO,*** Mỹ xóa 7 đảo nhân tạo Biển Đông
    Giáp vòng bi lụy máu đào tuôn rơi.
    Nói thiệt không phải nói chơi,
    NGỌ MÙI THÂN DẬU lập Đời đó dân.*** tháng 5, 6, 7, 8 âl năm 2020
    Lập rồi cái hội Tân Dân,
    Lập rồi cái đại Phong Thần kỳ ba.
    Bây giờ TA mới nói ra,
    Sắp đây mở Hội Long Hoa bớ người.
    Lọc ai phước đức cao dư,
    Đặng mà lập lại con người Thượng Nguơn.
    Nói ra có kẻ buồn hờn,
    TA đâu có sợ keo sơn được rồi.
    Nói đi nói đứng nói ngồi,
    Nói rằng nứt nắp BỂ NỒI RÃ HAI.*** Bể Nồi…
    Nói rằng cuồng loạn hăng say,
    Từ đây cháy hết được quay chỗ nào.
    Bên Tây rồi lại bên Tàu,
    Bên Anh bên Nhựt cũng nhào tiêu diêu.
    Không mai ắt cũng đến chiều,
    Mỹ Nga cũng vậy Mỹ miều cũng SAN!**..Chữ SAN là san bằng tiêu tan, Tận Thế!
    (Đức Cậu Bần Sĩ Vô Danh ứng khẩu thuyết, kết tập sách Thiền Tịnh Bửu Sơn tr. 105, Hội Cư Sĩ Thiền Tịnh Bửu Sơn Sydney ấn tống năm 2002)
    Lời bình: Câu sấm: “Nói rằng nứt nắp BỂ NỒI RÃ HAI”, cụm từ “BỂ NỒI” ám chỉ lãnh tụ nước Tàu gây trận giặc Biển Đông sẽ chết; cụm từ “RÃ HAI”, ám chỉ sau khi vị lãnh tụ giặc Tàu gây chiến Biển Đông chết {Bể Nồi}, chừng đó hai cường quốc Mỹ Nga giành giựt ngôi trùm thế giới đánh bằng vũ khí nguyên tử, biển bắc bán cầu nhiễm phóng xạ nguyên tử. Câu sấm: “Mỹ Nga cũng vậy Mỹ miều cũng san”. Chữ “SAN” nghĩa là san bằng tiêu tan, vì kể từ tháng 7 tháng 8 âl năm 2020, các cường quốc đấu chiến hỏa tiễn nguyên tử bay rợp trời đông tây, chết chóc khủng khiếp. Khi thấy có sự cố “BỂ NỒI” hay “BỂ CHÉN”, bá tánh biết đó là điềm tận thế đến. Hãy tu mau kẻo trễ!

    Hết MỸ rồi lại tới NGA,
    Từ đây sắp đến đem ra đấu tài.
    Đờn kêu các nước ngoại lai,
    Sắp mưu sắp kế ai hoài biết đâu.
    Làm cho rã quả địa cầu… ** ….. Tận Thế
    (Đức Cậu Bần Sĩ Vô Danh thuyết, Sấm Giảng Đạo Khùng tr. 99 Thiền Tịnh Bửu Sơn Sydney ấn tống năm 2002)

    * Sau khi Tận Thế, Trời Phật mở Long Hoa Đại Hội lập lại Thượng Nguơn Thánh Đức. Thánh địa Di Lạc Phật Vương tại Nam VN.
    Sydney, 29-10-2019, Kỳ Vân Cư Sĩ biên khảo https://www.facebook.com/kiengxluu https://kinhsamthatson.wordpress.com/
    https://www.youtube.com/watch?v=Pi9r2MoEjdI&t=1418s

  7. Đức Thầy Huỳnh Giáo Chủ về rồi

    Bàn tay lật ngửa vậy mà,
    Chớ đừng lật sấp vì THẦY TÁI SANH.
    Đi xa thì phải dặn rành…
    (Đức Huỳnh Giáo Chủ viết ở làng Nhơn Nghĩa {Xà No}, ngày rằm tháng 6 Canh Thìn 1940)

    Trong cảnh Hạ Nguơn dầu sổi lửa bỏng, giặc giã khói lửa mịt mù, Bồ Tát Phật giáng trần không có thì giờ nhàn rỗi ngồi uống trà run đùi ngâm thơ vịnh nguyệt. Mỗi hành động, mỗi lời nói của Đức Thầy Huỳnh Giáo Chủ đều khế hợp với thiên cơ đạo lý. Ngày 14-6- Canh Thìn (1940) tại làng Nhơn Nghĩa, Đức Thầy có làm thơ vịnh Hằng Nga dụng ý gởi một thông điệp quan trọng cho đệ tử hậu lai biết rằng Đức Thầy trở về mượn xác tái sanh thời cuối Hạ Nguơn như sau:

    Thơ xướng.

    Khen ai cắc cớ bấm trời tây, ******………cắc cớ từ cõi Niết Bàn Phật
    Tỉnh giấc HẰNG NGA khéo vẽ mày;***..Hằng Nga = Xác Nữ = xác cô
    Một phiến linh đinh trôi mặt biển,****…Tại sao Cô mà lại xưng Cậu?
    Nửa vừng lửng đửng dán trên mây.***… sao xưng Cậu mà lại là Cô?
    Cá ngờ câu thả tơi bời lội, *****…..Người đạo thấy xác Nữ sợ đạo tà,
    Chim tưởng cung trương sập sận bay; ****……….vội vã bỏ Thầy
    Nên một nên hai còn bé tuổi,
    Mười lăm mười bảy bốn phương hay.

    Thơ họa.

    Mây hồng năm sắc ở phương Tây, ********..Từ cõi Niết Bàn Phật
    Sáng suốt Ô KIM bởi vẹn mày; ****Ô Kim = mặt Trời = Hồn Nam = Đức Cậu
    Miệng nhỏ tiếng to vang bốn biển,**….Trổi giọng đờn ngâm nga ca kệ
    Lưỡi mềm lời lớn dậy rồng mây.****…truyền rao trầm bổng giọng Lôtô
    Lòng trong Thánh Kệ tình bơi lội,***….Trò đừng sợ, chính Thầy trở
    Dạ sạch Phật Kinh ý luyện bay; ****…về ứng khẩu thuyết chánh pháp
    Dầu cho thân Mỗ thanh xuân tuổi,
    Thức giấc đời mê phải được hay.

    Câu sấm: “Sáng suốt Ô Kim bởi vẹn mày”, tại sao không viết đúng là “Kim Ô” mà lại cố ý viết đảo ngược lại là “Ô Kim”? Đức Thầy dụng ý là: Vì hoàn cảnh Hạ nguơn mạt pháp tà ma lộng hành, tùy cơ ứng biến Thầy về mượn xác Nữ {Cô} mà phải xưng là Cậu (Đức Cậu) để nhắc cho đệ tử nhớ rằng Thầy trở về, Cô Cậu, Cậu Cô; Ô Kim, Kim Ô. Phải chăng đây là trường hợp dị thường ví như mượn xác Nữ mà xưng là ĐỨC CẬU, Ông Ba Nguyễn văn Thới tiên tri:

    Ai biết nước xuôi nuôi nước ngược,
    Bịnh căn vô dược được thọ trường.
    Dị thế dị thường tường dị lộ,
    Phật Trời cứu độ ngộ Phật Trời.
    Dị cư dị thời lời dị thuyết,
    Dị đoan dị tiếc kiết dị minh.
    Dị sự dị ninh linh dị pháp,
    Vô nhơn đối đáp pháp thinh không.
    Đức Thầy Đức Ông công ĐỨC CẬU, ***…..Có Người Thiện Nữ truyền lời
    Hội Đồng cơ hậu đậu trào Minh.
    (Kim Cổ Kỳ Quan, Cáo Thị 83: 85, Ông Ba Nguyễn văn Thới viết năm 1915)

    Thầy TIÊN môn đệ tục,
    Đạo chánh tín đồ tà;
    Cha hiền sanh con dữ,
    Tức bụng chị HẰNG NGA.

    HẰNG NGA bóng vẫn sáng,
    Mặc dù nhiều mây áng;
    Khi ngọn gió thổi qua,
    Ánh TRĂNG huờn tỏ rạng.

    Tỏ rạng là ánh TRĂNG,
    Mây không thể cản ngăn;
    Cản ngăn chỉ phí sức,
    Không thắng nổi CHỊ HẰNG.

    CHỊ HẰNG soi thế gian,
    Cho kẻ tối thấy đàng;
    Không vì câu danh lợi,
    Vạn cổ vẫn minh quang.

    Minh quang tánh của TRĂNG,
    Như minh quang đạo HẰNG;
    Khoảng thế gian càng tối,
    Ánh quang minh càng tăng.
    (Lá Thơ Đông Kinh Q. 1, tr.132, Bồ Tát Thanh Sĩ viết ở Tokyo ngày 10-6-1964)

    Phụ lục
    Niên như điển, nguyệt như thoi,
    Vần xây thế giới luân hồi chẳng chơi.
    Có NGƯỜI Thiện NỮ truyền lời,******Tỉnh giấc Hằng Nga khéo vẽ mày
    Nhứt vân thiên lộ máy trời thinh thinh.
    ………………………………………………

    Non đoài giữ dạ tín thành,
    Thầy cho CƯ SĨ học hành chưa thông.
    Anh em ai có phục tòng,
    Theo TÔI học đạo phải dùng tai nghe.
    (Sấm Truyền Đức Phật Thầy Tây An tr. 103 & 109, lưu ở đình Tòng Sơn năm 1849, Nguyễn văn Hầu biên khảo ấn tống năm 1973)
    Sydney, 30-7-2019, Kỳ Vân Cư Sĩ biên khảo .. https://kinhsamthatson.wordpress.com/

  8. Chuyện Đức Thầy Huỳnh Giáo Chủ trở về

    Ai ai chớ trách Phật Trời,
    Minh tâm thuyết lý nhiều lời cao sâu.
    Trớ trêu đờn khảy tai trâu,
    Nước xao đầu vịt gẫm lâu nực cười.
    Thánh xưa trước đã lầm người,
    Sau người lầm Thánh vui cười ngửa nghiêng
    (Kim Cổ Kỳ Quan, Thừa Nhàn 174/68, Ông Ba Nguyễn văn Thới viết năm 1915)

    Chuyện này vào năm 1939. Ông Bảy Phan văn Dứt con của ông Cả Chín, ông Cả làng Mỹ Hội Đông, cùng bạn làng với Đức Ông. Khi Đức Thầy mở Đạo thì ông Cả và con là ông Bảy Dứt cùng đến quy y với Đức Thầy.
    Nhân ngày ông Cả Chín và con là ông Bảy Dứt đến thăm Đức Thầy, Đức Thầy rủ ông Bảy Dứt đi tắm với Ngài và có hơn mười người cùng đi tắm chung, ông Bảy Dứt thuở đó cùng tuổi với Đức Thầy. Lúc này Thầy thường mặc bà ba trắng và Ngài đang viết bài Để Chơn Đất Bắc.
    Tuy trong lúc tắm có trên mười người, nhưng Thầy chỉ gọi ông Bảy Dứt kỳ lưng cho Ngài. Ông Bảy Dứt kỳ lưng cho Ngài nhẹ, không dám kỳ mạnh, vì lúc này kim thân của Ngài ốm quá, thấy thế, Thầy bảo:
    -Ông Bảy à! Kỳ lưng tôi cho mạnh đi, lưng tôi cũng đất không chớ gì.
    Nghe theo lời, ông Bảy kỳ mạnh, Thầy gục tới, gục lui, sức không chịu nỗi. Thầy quay mặt nhìn lại thì ông Bảy thấy là một ông lão râu tóc bạc phơ, có chòm râu dài, lông nheo, lông mày toàn là một màu trắng.
    Từ đang tuổi thanh niên, bỗng chốc Đức Thầy trở thành một cụ già râu tóc bạc phơ, thật là ngoài sức tưởng tượng của ông Bảy, sự việc làm cho ông kinh hoàng tột độ, ông nhìn Thầy sửng sốt. Thấy thế Thầy bảo với ông Bảy:
    -Chắc ông lạ lắm phải không? Mới đây tôi từ một người đang tuổi thanh xuân, bỗng chốc trở thành cụ già râu tóc bạc phơ.
    Lúc đó ông Bảy vẫn đang trong trạng thái sửng sốt, thì Đức Thầy tiếp luôn:
    -Ông đọc lại Quyển Thứ Nhứt của tôi, thì ông sẽ biết rõ tôi hơn.
    Khi già lúc lại trẻ thơ,
    Giả quê giả dốt khắp trong thị thiềng.
    Đi nhiều càng thảm càng phiền,
    Lên doi xuống vịnh nào yên thân Già.
    Rồi Ngài nói tiếp:
    -Tôi già cũng đặng, mà trẻ cũng đặng, ông hãy nghe thêm một đoạn nữa:

    “Vàm Nao rày đã đến rồi,
    Quày thuyền ghé lại bằng nay Chợ Đình.
    Hát hai câu hát huê tình,
    Đậu xem dân chúng Chợ Đình làm sao.
    Sáng ngày chợ nhóm lao xao,
    Giả bận áo màu ai cũng dòm xem.
    Mấy thằng trai trẻ thấy thèm,
    Đứng xa quanh quẩn nói gièm với nhau.
    Đứa này nói để cho tao,
    Đứa kia xạo xự áo màu quá ngon.”

    Sau câu chuyện, ông Bảy nhìn thấy Đức Thầy đã trở lại trạng thái bình thường là một người trai trẻ lúc đầu, và Ngài nói:
    -Thôi bây giờ đến phiên tôi kỳ lưng lại cho ông Bảy.
    Ông Bảy vội vàng thưa:
    -Bạch Thầy, con đâu dám để Thầy kỳ lưng cho con.
    – Thôi vậy cũng được, Đức Thầy nói, bây giờ mình cút bắt cho vui.
    Những người cùng tắm, kể Đức Thầy nữa là 16 người, ông Bảy thưa với Thầy:
    -Thầy cút hay là tụi con cút trước.
    -Các ông cút trước Thầy bắt cho.
    Ông Bảy nói:
    -Tụi con lặn là Thầy khó bắt lắm, bởi tụi con mỗi đứa chia nhau mỗi ngã thì lâu lắm Thầy mới bắt hết được.
    -Thì các ông lặn đi, Thầy bắt được hay không là các ông biết liền.
    Các ông chia nhau lội ra xa chỗ Thầy đang đứng rồi hè nhau lặn một lượt, khi họ lặn xong, Ngài mới đưa tay vuốt và vỗ nhẹ trên mặt nước, tức khắc mọi người đều nổi lên, mà mặt và mắt thì đỏ lơ.
    Đức Thầy bảo:
    -Tại sao tôi chưa bắt mà các ông trồi lên hết vậy?
    -Bạch Thầy! Tụi con đang ở dưới nước, trên nầy không biết Thầy làm gì mà tụi con nghe tiếng nổ thật mạnh, tụi con chịu không nỗi, giống như cá bị ngộp phải trồi lên.
    -Tôi chỉ vỗ tay nhẹ trên mặt nước, mấy ông không chịu nỗi phải trồi lên, tôi nói để mấy ông rõ, sau này cái tay của tôi chỉ là thế giới người ta sẽ tu nhiều lắm. Thôi bây giờ đến phiên tôi cút để các ông bắt.
    -Thầy lặn là tụi con ôm Thầy lên liền hè! Bởi tụi con mười mấy đứa giống như cái đăng vậy, Thầy lặn sao khỏi được tụi con.
    -Ờ! Mấy ông ráng bắt Thầy cho được nha!
    Nói xong Ngài lặn, cả mười mấy người đều thấy mặt nước không một mảy gợn sóng, con cá lòng tong ăn móng mà còn dợn nước nhiều hơn.
    Sau khi Đức Thầy lặn rồi, cả mười lăm người hè nhau lặn tìm Ngài, tất cả cố mở mắt ra mò tìm cả giờ mà không sao bắt gặp được Ngài, lạnh tay chân đều móp, run rẩy, cùng leo lên bờ ngồi, họ lo sợ phát khóc vì nghĩ là Thầy đã mất tích.
    Các người còn ngồi đó khóc than với nhau, thì ngay khi ấy Đức Thầy từ trên Tổ Đình đi xuống mà chưa ai hay. Ngài đến vỗ vai ông Bảy:
    -Tôi chờ các ông lâu quá mà không thấy các ông lên, các ông ở đây làm gì?
    Các ông quay lại thấy Thầy thì ai nấy đều mừng rỡ, Thầy chỉ vào đôi mắt của các người mà rằng:
    -Nước mắt của bà con còn nhiều lắm! Nhưng đến khi tôi vắng mặt và lúc trở về thì nó sẽ cạn đi nhiều! Bởi quá nhiều cảnh khổ!

    Lời bình của Kỳ Vân Cư Sĩ:
    Đức Thầy mượn sự việc tắm sông cút bắt để lồng vào cái lý Thầy sẽ vắng bóng một thời gian. Khi Thầy trở về, tùy cơ ứng biến, Thầy mượn xác khi già, khi trẻ, khi nam, khi nữ. Đặc biệt trong lời đối thoại với ông Bảy Dứt, Thầy cho biết Thầy mượn xác Nữ:

    “Vàm Nao rày đã đến rồi,
    Quày thuyền ghé lại bằng nay Chợ Đình
    Hát hai câu hát huê tình,
    Đậu xem dân chúng Chợ Đình làm sao
    Sáng ngày chợ nhóm lao xao,
    Giả bận áo màu ai cũng dòm xem.
    Mấy thằng trai trẻ thấy thèm,
    Đứng xa quanh quẩn nói dèm với nhau
    Đứa này nói để cho tao,
    Đứa kia xạo xự áo màu quá ngon.”

    Phụ lục: Đức Thầy mượn xác Nữ

    Niên như điển, nguyệt như thoi,
    Vần xây thế giới luân hồi chẳng chơi.
    Có NGƯỜI THIỆN NỮ truyền lời,
    Nhứt vân thiên lộ máy trời thinh thinh
    ………………………………………………………………..
    Non đoài giữ dạ tín thành,
    Thầy cho CƯ SĨ học hành chưa thông
    Anh em ai có phục tòng,
    Theo TÔI học đạo phải dùng tai nghe
    (Sấm Truyền Đức Phật Thầy Tây An tr. 103 & 109, lưu ở đình Tòng Sơn năm 1849, Nguyễn văn Hầu biên khảo ấn tống năm 1973)

    Thầy TIÊN môn đệ tục,
    Đạo chánh tín đồ tà;
    Cha hiền sanh con dữ,
    Tức bụng chị HẰNG NGA.

    HẰNG NGA bóng vẫn sáng,
    Mặc dù nhiều mây áng;
    Khi ngọn gió thổi qua,
    Ánh TRĂNG huờn tỏ rạng…
    (Lá Thơ Đông Kinh Q. 1, tr.132, Bồ Tát Thanh Sĩ viết ở Tokyo ngày 10-6-1964)

    Trong cảnh Hạ Nguơn dầu sổi lửa bỏng, giặc giã khói lửa mịt mù, Bồ Tát giáng trần không có thì giờ nhàn rỗi ngồi uống trà run đùi ngâm thơ vịnh nguyệt. Mỗi hành động, mỗi lời nói của Đức Thầy Huỳnh Giáo Chủ đều khế hợp với thiên cơ đạo lý. Ngày 14-6- Canh Thìn (1940) tại làng Nhơn Nghĩa, Đức Thầy có làm thơ vịnh Hằng Nga dụng ý gởi một thông điệp quan trọng cho đệ tử hậu lai biết rằng Đức Thầy mượn xác tái sanh thời cuối Hạ Nguơn như sau:

    Thơ xướng:

    Khen ai cắc cớ bám trời tây,
    Tỉnh giấc HẰNG-NGA khéo vẽ mày.
    Một phiến linh-đinh trôi mặt biển,
    Nửa vừng lửng-đửng dán trên mây.
    Cá ngờ câu thả tơi-bời lội,
    Chim tưởng cung trương sập-sận bay.
    Nên một nên hai còn bé tuổi,
    Mười lăm mười bảy bốn phương hay.

    Thơ họa.

    Mây hồng năm sắc ở phương Tây,
    Sáng suốt Ô KIM bởi vẹn mày;
    Miệng nhỏ tiếng to vang bốn biển,
    Lưỡi mềm lời lớn dậy rồng mây.
    Lòng trong Thánh Kệ tình bơi lội,
    Dạ sạch Phật Kinh ý luyện bay;
    Dầu cho thân Mỗ thanh xuân tuổi,
    Thức giấc đời mê phải được hay.

    Đức Thầy báo trước rằng sau này Thầy vắng bóng, rồi Thầy sẽ trở về, trò tìm mãi vẫn không thấy Thầy đâu. Bởi lẽ trò mang căn bịnh chấp danh chấp tướng.Thầy giáng thế hóa thân Bồ Tát thiên hình vạn trạng khó lường; tùy cơ ứng biến, khi Thầy mượn xác già, khi xác trẻ, khi xác nam, khi xác Nữ…

    Sydney, 5-9-2019, Kỳ Vân Cư Sĩ biên khảo * (Facebook Mõ Tre) https://kinhsamthatson.wordpress.com/
    https://www.youtube.com/watch?v=Pi9r2MoEjdI&list=UUHgR-w4Qt_nQiSDKI6AiVSw&index=25

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *