Hát khắp Tày Lục Yên
nguồn video youtube: Gái Bản
MRich Media
Hát then trên đà hồi phục
“Có thể ví hát then như là một bộ trường ca khổng lồ, trong bộ trường ca khổng lồ ấy bao gồm có nhiều trường ca nhỏ. Trong mỗi trường ca nhỏ lại được chia ra thành các chương, các đoạn và mỗi chương đoạn đều có cách hát khác nhau, sự hấp dẫn cũng khác nhau…

Người Tày gọi là Then, nhưng khi dịch sang tiếng Kinh thì gọi hát then. Hát then là một hình thức dân ca nghi lễ của người Tày đã có từ rất xa xưa. Có ý kiến cho rằng, vào thế kỷ thứ XVI, nhà Mạc lên chiếm cứ Cao Bằng (1592 – 1667) lập triều đình riêng để chống lại nhà Lê, số quan quân và thầy đồ lên Cao Bằng theo nhà Mạc rất đông. Lúc bấy giờ các trí thức địa phương là người Tày có nhiều người văn hay, chữ tốt. Trong đó có ông Bế Văn Phủng nổi tiếng học rộng, giỏi làm thơ, biết nhạc, đã soạn ra nhiều điệu múa để huấn luyện cho nam nữ đi biểu diễn phục vụ các ngày hội vui chơi. Đặc biệt, ông còn sáng tác nhiều bài hát then được nhân dân ca tụng. Vua nhà Mạc thấy thế đã phong cho Bế Văn Phủng làm trạng Tư thiên quản nhạc xem thiên văn khí tượng và quản lý đội nhạc của cung đình. Kể từ đó mới có hát then và hát then bắt đầu phát triển. Nhưng căn cứ các tài liệu để lại thì vào thời kỳ tương ứng với thời kỳ Nam Bắc Triều của Trung Quốc (420 – 589), ở Cao Bằng hai ông Lê Thế Khanh và Nông Đình Xuân đã chép lại 13 chương Pửt và Then để truyền lại cho đời sau. Như vậy then của người Tày đã có từ thuở rất xa xưa và chắc chắn đã ra đời từ trong dân gian.
Các chương then do hai ông Bế Văn Phủng và Nông Đình Xuân chép lại cũng giống như các chương then được lưu truyền trong dân gian đã cho thấy cuộc hành quân của con người từ dưới trần thế đi lên trên mường trời rất hùng tráng nhưng cũng đầy rẫy những sự ai bi. Đối với người Tày, chắc chắn ai cũng đều thích nghe hát then. Bởi hát then là một loại hình diễn xướng dân gian dễ đi vào lòng người với ca từ và âm nhạc rất hấp dẫn. Hát then không phải chỉ là diễn xướng dân gian đơn thuần, mà hoàn toàn mang phong cách bác học. Hát then bao giờ cũng được hát với đầy đủ nghi lễ và tổ chức ở nơi trang trọng nhất trong gia đình, đó là gian nhà ở trước bàn thờ tổ tiên. Người hát then bao giờ cũng hát từng chương, từng khúc theo một trình tự và bài bản nhất định như trong sách. Một cuộc hát then có thể chỉ dài một đêm nhưng cũng có thể dài tới mấy ngày đêm, thời gian dài hay ngắn tuỳ theo mục đích của đêm hát then và yêu cầu của gia chủ.
Nói đến Then là người ta nghĩ ngay đến “Khảm hải” (Vượt biển), một trường ca hấp dẫn nhất của Then. Với các thủ pháp nghệ thuật so sánh, khoa trương, phóng đại và miêu tả rất hấp dẫn, “Khảm hải” đưa con người ta mê mải qua bao chặng đường vô hình đầy gian nan từ trần thế đi lên thượng giới. Ở trên đó có chợ Tam Quang, một thế giới thần tiên với bao sắc màu lung linh huyền ảo. Trong “Khảm hải” có một hiện thực của tương lai vô cùng tốt đẹp nhưng mà muốn đến được chốn đó phải trải qua xiết bao nhọc nhằn, vất vả, đắng cay. Nửa đêm ai nghe “Khảm hải” cũng cảm thương cho phận mình mà rơi nước mắt trước cảnh chàng trai phu sluông nghe lời dặn bi thương của người vợ trong giờ tiễn biệt. “Khảm hải” nếu xét về mặt tín ngưỡng dân gian và khía cạnh văn học đều mang giá trị rất cao. “Khảm hải” bao giờ cũng được các ông bà hát vào lúc gà gáy, trời đã gần về sáng. Vào thời khắc đó không gian tĩnh mịch, vắng vẻ nhất. Khi lời hát “Khảm hải” cất lên, nó sẽ đem lại cho người nghe sự rung động tâm thành, qua đó ai cũng thấy như mình được giao cảm trực tiếp với thần linh.

Hát then thực sự đã kết hợp nhuần nhuyễn giữa hai yếu tố nghệ thuật diễn xướng dân gian và nghệ thuật bác học. Qua then, cho thấy sinh hoạt văn hóa tâm linh của người Tày đã đạt đến đỉnh cao.

Phần lời của hát then mang đậm chất văn học. Nếu tách phần lời ra khỏi nhạc thì đó sẽ là những trường ca dài khác nhau. Hiện nay, các cuốn sách hát then của người Tày đã được sưu tầm có thể kể: “Lời hát then” (trích), Nhà xuất bản Việt Bắc, 1978, Dương Kim Bội sưu tầm, dài 3.700 câu; “Khảm Hải”, Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc 1993, Vi Hồng sưu tầm, biên soạn, giới thiệu, dài 650 câu (đã được đưa vào giảng dạy ở trong nhà trường); “Then bách điểu”, Nhà xuất bản Văn hóa Dân tộc, 1994, Hoàng Tuấn Cư sưu tầm, Vi Quốc Đình, Nông Văn Tư, Hoàng Hạc phiên âm và dịch, dài 3.980 câu… Có thể coi đây là dạng văn học tín ngưỡng thành văn nhưng không có tên tác giả.”
Dương Thuấn
Bài viết còn thiếu

source: https://aatapaatalu.net

Xem thêm các bài viết về Giải Trí: https://aatapaatalu.net/category/giai-tri/

abigailimaino

Leave a Reply

Your email address will not be published. Required fields are marked *